Thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam
TÀI CHÍNH | TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Written by Administrator on Monday, 08 December 2008 00:00   
Article Index
Thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam
Trang 2
All Pages

         Công cụ tài chính phái sinh là bộphận của các công cụ tài chính với bảnchất của nó là một công cụ tài chính hoặc một hợp đồng với đầy đủ 3 đặc điểm sau:  (a) Giá trị của nó sẽ thay đổi phản ánh sự thay đổi của biến cơ sở như lãi suất, giá của công cụ tài chính,giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái; chỉ số giá hoặc lãi suất; chỉ số tín dụng hoặcxếp hạng tín dụng hoặc các chỉ số khác với điều kiện trong trường hợp các chỉ số khác này là biến số phi tài chính thì biến số đó không liên quan đến một bên nào của hợp đồng;

            (b) Không yêu cầu bất cứ một khoản đầu tư thuần ban đầu nào hoặc chỉ yêu cầu một khoản đầu tư thuần ban đầu nhỏ hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự trước sự biến đổi của các yếu tố thị trường;

            (c) Được thực hiện vào một ngày trong tương lai.  

            Nội dung kinh tế, cơ chế thực hiệngiao dịch về công cụ tài chính phái sinh nói chung khá phức tạp. Công cụ tài chính phái sinh được mua/ được bán/ được giao dịch trên thị trường tài chính, bao gồm cả thị trường chính thức và thị trường phi chính thức. Tại thị trường chính thức, nơi thị trường được tổ chức và quản lý một cách có hệ thống và các hợp đồng giao dịch được tiêu chuẩn hóa, nhờ đó thị trường của các công cụ phái sinh có tính thanh khoản cao.

            Công cụ tài chính phái sinh và thị trường công cụ tài chính phái sinh có tầm quan trọng như thế nào đối với tài chính doanh nghiệp, đối với các tổ chức tài chínhvà đối với phát triển kinh tế nói chung? Phải có các điều kiện cần và đủ nào để xây dựng, phát triển một thị trường công cụ phái sinh hoạt động hiệu quả? đối với từng doanh nghiệp/ từng tổ chức tài chính, nên ứng dụng công cụ phái sinh như thế nào? Đó là những vấn đề bức xúc của thực tiễn đặt ra rất cần được nghiên cứu sâu trên mọi khía cạnh. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi tổng quan về những tác động của thị trường công cụ tài chính phái sinh đối với phát triển kinh tế và những quan điểm cơ bản của giải pháp thuộc về lĩnh vực kế toán.      

            1.Tổng quan về thực trạng thị trường côngcụ tài chính phái sinh tại Việt Nam

            Trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốctế, Hệ thống tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển rất quan trọng theo hướng hội nhập với thông lệ và Chuẩn mực Quốc tế được chấp nhận chung. Đây là định hướng phát triển đúng đắn để Hệ thống tài chính Việt Nam phát triển ổn định, bền vững, tạo điều kiện cần cho phát triển kinh tế nước ta. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại (11/2007), công cụ tài chính phái sinh và thị trường công cụ tài chính phái sinh vẫn chưa phát triển; việc mua/ bán công cụ tài chính phái sinh được rất ít doanh nghiệp hoặc tổ chức tài chính thực hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời thị trường chính thức chưa được thiết lập, thị trường phi chính thức nhỏ lẻ và hoạt động không thườngxuyên.

            Loại công cụ tài chính phái sinh được phổ biến nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay là công cụ tài chính phái sinh tiền tệ. Ngoài ra, một số ít ngân hàng thương mại Việt Nam đang được Ngân hàngNhà nước (NHNN) cho phép thực hiện thí điểm mua/ bán một số loại công cụ tài chính phái sinh khác như công cụ tài chính phái sinh về tín dụng, hoán đổi lãi suất, quyền chọn về vàng, kỳ hạn về hàng hóa.

            Khung pháp lý chế độ kế toán Việt Nam liên quan đến công cụ tài chính phái sinh hiện nay như thế nào?

            Đốivới các TCTD, năm 2006, sau khi được Bộ Tài chính chấp thuận, NHNN đã ban hành chế độ kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các tổ chức tín dụng (TCTD) (thể hiện ở Quyết định số 29/2006/QĐ-NHNN ngày 10/07/2006 của Thống đốc NHNN; Côngvăn số 7404/NHNN-KTTC ngày 29/08/2006 của NHNN). Theo đó, các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ ghi nhận lần đầu theo giá trị giao dịch, tiếp theo thường xuyên được đánh giá lại, ghi nhận trên sổ sách kế toán theo hoặc gần đúng theo giá trị hợp lý thị trường; đồng thời kết quả (lãi/ lỗ) của TCTD được xác định hợp lý, hạn chế bớt tình trạng lãi giả, lỗ thật hoặc lãi thật, lỗ giả. Tiếp đến,với Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/04/2007 của Thống đốc NHNN về Chế độ báo cáo tài chính đối với các TCTD, việc công bố thông tin về công cụ tài chính phái sinh trên báo cáo tài chính của các TCTD đã ở mức đầy đủ, chi tiết cần thiết cho những ai quan tâm. Chế độ báo cáo này gần như quán triệt tuyệt đối các chỉ tiêu cần công bố theo thông lệ Quốc tế về trình bày báo cáo tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự. Đáng lưu ý là các thông tin sau: Loại công cụ tài chính phái sinh được mua/ bán; quy mô mua/ bán; giá trị ròngvề tài sản/ công nợ theo giá trị hợp lý thị trường của các công cụ tài chínhphái sinh; mức độ các loại rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãisuất, rủi ro tỷ giá và rủi ro giá cả khác hiện có...  

            Đối với các doanh nghiệp, khi mua/bán công cụ tài chính phái sinh thì ghi nhận như thế nào? Theo quy định tạikhoản 1, Điều 7 của Luật kế toán về Nguyên tắc kế toán: "Giá trị tài sản được tính theo giá gốc...", và nguyên tắc này được cụ thể hóa bằng các quy định tại Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính),tuy nhiên chưa có hướng dẫn trực tiếp về xử lý kế toán, về trình bày chỉ tiêu tài chính có liên quan trên báo cáo tài chính đối với các nghiệp vụ mua/ bán/giao dịch công cụ tài chính phái sinh.

            Nếu vận dụng các quy định hiện hành,quy trình xử lý kế toán tại doanh nghiệp như sau: khi doanh nghiệp mua tài sản là công cụ tài chính phái sinh, doanh nghiệp sẽ ghi nhận theo giá gốc; quá trình nắm giữ, nếu giảm giá có thể trích lập dự phòng rủi ro; khi bán/ tất toán công cụ tài chính phái sinh, chênh lệch giữa giá bán và giá trị đang ghi sổ kế toán, doanh nghiệp sẽ được ghi thu khác/ ghi chi khác. Việc xử lý kế toán như vậy về công cụ tài chính nói chung, về công cụ tài chính phái sinh nói riêng không phù hợp với thông lệ kế toán Quốc tế. Tất yếu của vấn đề, kết quả kinh doanh của năm sẽ không xác định được hợp lý do chưa quán triệt được các nguyên tắc kế toán như "dồn tích", "thận trọng", "phù hợp" ... Những chỉ tiêu tài chính về công cụ tài chính cần phải trình bày trên báo cáo tài chính doanh nghiệp để cung cấp thông tin cho đối tác, cho người đầu tư, cho cơ quan quản lý... cũng chưa có.

            Đối với một vài TCTD đang thực hiện thí điểm mua/ bán các loại công cụ tài chính phái sinh khác (ngoài phái sinh ngoại tệ), TCTD phải tự vận dụng thông lệ Quốc tế cho việc ghi chép kế toán và xác định kết quả hoạt động kinh doanh.   

            2. Nguyên nhân hạn chế mức độ phát triển thị trường công cụ tài chính phái sinh hiện nay

            Theo quan điểm của tác giả,  những nguyên nhân chính đã và đang hạn chế việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hạn chế mức độ phát triển thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam là:

            Thứ nhất, mức độ tham gia thị trường vốn của các doanh nghiệp chưa lớn, các nhà quản trị doanh nghiệp chưa có nhu cầu và cũng chưa có hiểu biết nhiều về bản chất của các loại công cụ tài chính phái sinh.

            Thứ hai, các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại:  nguồn nhân lực hạn chế, hệ thống thông tin quản lý chưa phát triển; đối tác mua, bán công cụ tài chính phái sinh với cácNHTM là các doanh nghiệp lại hạn chế. Do đó, các tổ chức tài chính cũng chưa có nhu cầu, chưa chủ động phát triển và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ về công cụ tài chính phái sinh.

            Thứ ba, khuôn khổ pháp lý: các luật lệ, các chính sách quản lý nhà nước còn thiếu; cơ chế nghiệp vụ chưa có. Đặc biệt, hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam còn chưa có các Chuẩn mực tương đồng với các Chuẩn mực kế toán Quốc tế về công cụtài chính, đặc biệt trong đó là các Chuẩn mực IAS 39 "Các công cụ tàichính: Ghi nhận và xác định giá trị"; IAS 32 "Công cụ tài chính:Thuyết minh và trình bày thông tin"; IFRS7 "Các công cụ tài chính: công bố".

            Việc thiếu vắng các tiêu chuẩn kế toán chất lượng cao để ghi nhận, đánh giá giá trị công cụ tài chính nói chung và công cụ tài chính phái sinh nói riêng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định kết quả tài chính, đến quản trị rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời cơ quan giám sát tài chính- ngân hàng- chứng khoán cũng không thể có được thông tin đầy đủ, trung thực để giám sát thị trường chung, giám sát an toàn hoạt động của từng tổ chức tài chính.

            Hiện tại, cơ quan quản lý nhà nướcViệt Nam cũng mới cấp giấy phép hạn chế cho một số TCTD, một số doanh nghiệp được mua/ bán đối với một số công cụ tài chính phái sinh mà thôi. Theo quan điểm của tác giả, sự quản lý chặt chẽ này trong giai đoạn vừa qua là cần thiết để bản thân doanh nghiệp và cơ quan giám sát kiểm soát được rủi ro. 

            Thứ tư, chi phí giao dịch có liên quan để mua/ bán/ giao dịch công cụ tài chính phái sinh còn cao. Chi phí giao dịch bao gồm:

            . Chi phí tìm kiếm thông tin;

            . Chi phí thương lượng với đối tác;

            . Chi phí để điều chỉnh trạng thái nhằm thích nghi với điều kiện mới của thị trường và tài thương lượng;

            . Chi phí phát sinh từ những yếu tố bất định và rủi ro về thông tin, thể chế... (uncertaily cost - chi phí rủi ro không dự đoán được);

            . Chi phí ủy quyền tác nghiệp;

            . Chi phí thực hiện và giám sát.

 



 

Add comment


Security code
Refresh

KHÁCH HÀNG DỊCH VỤ KẾ TOÁN

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday211
mod_vvisit_counterYesterday344
mod_vvisit_counterThis week555
mod_vvisit_counterLast week2411
mod_vvisit_counterThis month1743
mod_vvisit_counterLast month12304
mod_vvisit_counterAll days18431

QUẢNG CÁO : 0908 521 529

Get Adobe Flash player

Members Login

Copy right : CÔNG TY CỔ PHẦN DOANH ĐỨC - Phiên bản thử nghiệm

439 Hoàng Văn Thụ, Phường , Quận Tân Bình, Tel : 73084569 Fax: 73084965